Ở các làng nghề vùng Thanh Oai, người còn ngồi làm nghề hằng ngày phần đông là phụ nữ trung niên và người cao tuổi; lớp trẻ phần lớn đi làm công ty, khu công nghiệp hoặc vào nội thành, chỉ một phần nhỏ ở lại nối nghề, thường là con cháu các gia đình làm nghề lâu đời và có đầu ra ổn định. Sức ép đến từ ba phía: đất làng thu hẹp vì đô thị hoá, thu nhập từ nghề thủ công thấp và bấp bênh so với đi làm thuê, và thói quen tiêu dùng thay đổi.
Bức tranh ấy không phải đặc thù của riêng Thanh Oai mà là chuyện chung của làng nghề ven các thành phố lớn. Nhưng ở đây nó hiện ra rất rõ, vì vùng này nằm ngay sát Hà Đông, nơi các khu đô thị mới mọc lên nhanh trong khoảng hai chục năm qua. Bài viết nhìn vào chuyện ai đang làm nghề, việc truyền nghề diễn ra thế nào, nghề đã thích nghi ra sao và đâu là những hướng giữ nghề có tính thực tế.
Phố tiến về làng: những gì đã thay đổi
Hai mươi năm trước, đi từ Hà Đông về Kim Bài, người ta còn thấy những cánh đồng rộng hai bên đường. Bây giờ, phía giáp Hà Đông có những khu đô thị mới, nhà cao tầng, đường rộng, và đất nông nghiệp đã chuyển đổi một phần. Những làng như Cự Đà, Bình Đà, các thôn của Cự Khê, Bích Hòa nằm gần vùng chuyển đổi này hơn cả, chịu tác động rõ nhất.
Đô thị hoá mang lại đường sá tốt hơn, dịch vụ gần hơn, cơ hội việc làm nhiều hơn. Nhưng nó cũng khiến đất làng đắt lên, nhà cửa xây kín sân, bãi phơi thu hẹp. Với nghề cần không gian như phơi miến, phơi lá nón, đó là thay đổi trực tiếp vào năng lực sản xuất. Một sân phơi biến thành nền nhà là một phần nghề biến mất theo.
Đô thị hoá còn thay đổi cách nghĩ về nghề. Khi xung quanh có nhiều việc làm công ăn lương, giờ giấc rõ ràng, có bảo hiểm, nghề thủ công làm tại nhà với thu nhập không đều trở nên kém hấp dẫn với người trẻ. Không ai trách được lựa chọn đó; đó là chuyện mưu sinh.
Tuy vậy, đô thị đến gần cũng là thị trường đến gần. Cư dân các khu đô thị mới là khách mua giò chả, miến, tương, nón ngay sát làng. Khoảng cách từ nội thành về làng nghề rút ngắn, du khách cuối tuần về nhiều hơn. Cùng một quá trình, có mặt lấy đi và có mặt mở ra.
Ai đang giữ nghề hôm nay
Phụ nữ trung niên và cao tuổi. Ở làng nón Chuông, người ngồi khâu nón ở hiên nhà phần lớn là các bà, các mẹ. Với họ, nghề nón vừa là thu nhập thêm vừa là việc quen tay, làm xen việc nhà, trông cháu. Nhiều người khâu nón từ thuở nhỏ và vẫn làm khi đã ngoài sáu mươi.
Gia đình có cơ sở sản xuất ổn định. Ở Ước Lễ, Cự Đà, Bình Đà, những hộ đã có mối khách quen, có máy móc, có thương hiệu riêng thường giữ được nghề qua thế hệ. Con cháu thấy nghề nuôi được gia đình thì sẵn lòng ở lại, có khi mang theo kiến thức mới về kinh doanh, bán hàng.
Người làm nghề như việc phụ. Không ít người đi làm công ty ban ngày, tối và cuối tuần về phụ việc nghề của gia đình. Mùa cao điểm cuối năm, cả nhà cùng xắn tay. Nghề vì thế không mất hẳn, chỉ chuyển từ nghề chính sang nghề phụ.
Người trẻ quay lại vì đam mê hoặc cơ hội. Một số người trẻ học xong, đi làm nơi khác rồi quay về làng, nhìn nghề của ông bà bằng con mắt mới: làm sản phẩm thiết kế lại, bán qua mạng, kết hợp với trải nghiệm cho khách. Số này chưa nhiều nhưng là tín hiệu đáng chú ý.
Truyền nghề diễn ra thế nào
Ở các làng nghề thủ công, truyền nghề chủ yếu diễn ra trong gia đình, không qua trường lớp. Trẻ con lớn lên giữa đồ nghề, nhìn người lớn làm, được giao việc nhỏ trước, việc khó sau. Ở làng Chuông, nhiều đứa trẻ biết xâu kim, khâu những mũi đầu tiên trên chiếc nón hỏng từ khi còn học tiểu học. Ở Ước Lễ, trẻ phụ rửa lá, buộc dây trước khi được đứng cối.
Cách truyền nghề này có ưu điểm là truyền được cả những điều không viết thành lời: cảm nhận độ nóng của lá khi là, độ dẻo của thịt khi giã, màu của tương khi chín. Nhưng nó có điểm yếu là phụ thuộc hoàn toàn vào việc gia đình còn làm nghề và con cháu còn ở nhà. Khi trẻ đi học xa, đi làm xa, sợi dây truyền nghề đứt.
Thời gian học cũng bị chia nhỏ. Trẻ ngày nay đi học cả ngày, học thêm buổi tối, cuối tuần lại có lớp năng khiếu. Khoảng thời gian rảnh để ngồi cạnh bà, cạnh mẹ mà xem, mà tập ít hơn hẳn so với thế hệ trước, khi việc nhà và việc nghề đan vào nhau suốt ngày. Nhiều gia đình nói con cháu biết nghề nhưng chỉ ở mức phụ việc, chưa đủ để tự làm ra sản phẩm.
Một số nơi đã thử mở lớp dạy nghề ngắn hạn, các chương trình đào tạo nghề cho lao động nông thôn, hoặc mời nghệ nhân dạy ở trường học trong các buổi ngoại khoá. Hiệu quả khác nhau, vì học vài buổi không thay được nhiều năm làm quen tay. Nhưng những lớp đó giúp trẻ biết nghề của làng mình, tạo sự gắn bó ban đầu, và đôi khi gieo được một hạt mầm.
Những cách nghề đã thích nghi
Các làng nghề vùng Thanh Oai không đứng yên trước đô thị hoá. Bảng dưới gom những hướng thích nghi thường thấy, với ưu điểm và giới hạn của từng hướng.
| Hướng thích nghi | Điều được | Giới hạn |
|---|---|---|
| Đưa máy vào các công đoạn nặng | Giảm sức người, tăng năng suất (máy thái miến, máy xay giò) | Cần vốn, điện, chỗ đặt máy; một số người cho rằng mất chất thủ công |
| Bán hàng qua mạng | Tiếp cận khách xa, không phụ thuộc người buôn | Cần kỹ năng chụp ảnh, đóng gói, chăm sóc khách; cạnh tranh gay gắt |
| Làm sản phẩm mới từ nghề cũ | Nón trang trí, quà tặng, sản phẩm thiết kế lại | Thị trường nhỏ, cần ý tưởng và đầu tư mẫu |
| Kết hợp du lịch, trải nghiệm | Thêm thu nhập, quảng bá tên làng | Cần chuẩn bị không gian, người hướng dẫn; dễ làm phiền sinh hoạt |
| Chuyển hẳn sang nghề khác | Thu nhập ổn định hơn với một số hộ | Mất kỹ năng cũ, mất bản sắc nếu nhiều hộ cùng bỏ |
Không có hướng nào phù hợp cho mọi hộ. Một gia đình làm nón có thể chọn bán qua mạng; gia đình khác chọn nhận đơn biểu diễn; gia đình khác nữa giữ cách làm cũ và bán cho khách quen. Sự đa dạng ấy giúp nghề có nhiều lối đi.
Bán hàng qua mạng: cơ hội và cái bẫy
Trong vài năm gần đây, nhiều hộ làm nghề ở Thanh Oai bắt đầu bán hàng qua mạng xã hội và các sàn thương mại điện tử. Con cháu trong nhà chụp ảnh nón, ảnh giò, ảnh miến, đăng lên, nhận đơn từ khắp nơi. Với những hộ trước đây chỉ bán cho người buôn ở chợ, đây là cách lấy lại phần lợi nhuận vốn rơi vào khâu trung gian.
Nhưng bán qua mạng không đơn giản. Hàng thực phẩm như giò chả cần giữ lạnh khi giao, miến và tương cần bao bì kín, nhãn đủ thông tin. Nón cần đóng gói cẩn thận để không bị bẹp. Khách mua qua mạng đòi hỏi trả lời nhanh, đổi trả rõ ràng. Không phải hộ nào cũng đủ người và kỹ năng để làm.
Cái bẫy nữa là cạnh tranh về giá với hàng không rõ nguồn gốc mang tên làng. Khi người mua chỉ nhìn giá, hàng làm kỹ khó cạnh tranh với hàng làm nhanh. Vì vậy những hộ bán qua mạng thành công thường là những hộ kể được câu chuyện của mình: ai làm, làm thế nào, vì sao khác. Câu chuyện thật của người làm nghề là thứ không nhái được.
Những gì có thể giúp nghề sống được lâu hơn
Từ kinh nghiệm của các làng nghề ven đô, có mấy điều thường được nhắc đến như điều kiện để nghề tồn tại qua thế hệ:
- Nghề phải nuôi được người làm. Không ai giữ nghề chỉ vì tình cảm nếu nghề không đủ sống. Thu nhập ổn định là điều kiện đầu tiên.
- Có không gian sản xuất. Quy hoạch giữ lại hoặc bố trí khu sản xuất cho làng nghề quyết định nghề có chỗ đứng trong làng đang đô thị hoá hay không.
- Tên làng được bảo vệ. Nhãn hiệu tập thể, chỉ dẫn nguồn gốc giúp người làm thật không bị hàng mượn tên lấn át.
- Người trẻ có vai trò. Khi người trẻ được làm phần việc hợp với mình như bán hàng, thiết kế, kể chuyện, họ dễ gắn bó hơn là chỉ làm công đoạn tay chân.
- Cộng đồng làng cùng làm. Hội làng nghề, tổ hợp tác giúp các hộ nhỏ cùng mua nguyên liệu, cùng tìm thị trường, cùng giữ chất lượng.
Những điều này không do một hộ quyết định được. Nhưng mỗi hộ đều có thể góp phần, từ việc giữ chất lượng sản phẩm của mình đến việc dạy con cháu biết nghề, dù sau này chúng chọn con đường nào.
Khách đến làng nghề có thể làm gì
Người ở nội thành Hà Nội hay các khu đô thị mới cạnh Thanh Oai có thể góp phần giữ nghề theo cách rất đơn giản: mua sản phẩm trực tiếp từ người làm, hỏi han về nghề, kể lại cho người khác. Một chiếc nón mua ở làng Chuông, một cân miến mua ở Cự Đà, một cây giò đặt ở Ước Lễ đều là thu nhập trực tiếp cho người làm nghề.
Khi đến làng, giữ ý là điều cần thiết. Làng nghề là nơi người ta sống và làm việc, không phải sân khấu. Hỏi trước khi chụp ảnh, không chen vào chỗ đang làm, không mặc cả quá đà với hàng thủ công. Sự tôn trọng ấy khiến người làm nghề cảm thấy nghề của mình có giá trị, điều quan trọng không kém tiền bán hàng.
Cách đi, đường đến từng làng, nên kết hợp những điểm nào trong một ngày thuộc phần điểm đến cuối tuần của trang. Còn ở góc làng nghề, điều đáng mang về là hiểu thêm một chút về những đôi tay đang giữ nghề, và về những lựa chọn khó khăn của họ khi phố ngày càng gần.
Câu hỏi thường gặp
Nghề nón làng Chuông có nguy cơ mất không?
Nghề vẫn được nhiều hộ duy trì, nhưng người làm chủ yếu là trung niên và cao tuổi, lớp trẻ theo nghề ít hơn trước. Nghề sẽ tồn tại lâu hay không phụ thuộc vào đầu ra, thu nhập và việc có người kế nghề. Hiện vẫn có những gia đình làm nghề ổn định và tìm thị trường mới.
Người ngoài làng có thể học nghề nón hay nghề giò không?
Có thể, nếu thoả thuận được với một gia đình làm nghề sẵn lòng dạy. Không có trường lớp chính thức thường xuyên, đôi khi có lớp ngắn hạn do địa phương tổ chức. Học để làm được sản phẩm bán ra cần thời gian dài, không thể học trong vài buổi.
Đô thị hoá có làm mất hẳn làng nghề ven đô không?
Không nhất thiết. Đô thị hoá lấy đi đất và lao động nhưng cũng mang đến thị trường, đường sá và khách tham quan. Làng nào thích nghi được, giữ được không gian sản xuất và tên tuổi thì có thể tồn tại song song với đô thị.
Mua hàng làng nghề qua mạng có đáng tin không?
Có những hộ làm nghề thật bán qua mạng, nhưng cũng có hàng mượn tên. Nên chọn người bán có thông tin rõ về người làm, địa chỉ sản xuất, có thể hỏi han cụ thể về cách làm. Với thực phẩm, chú ý nhãn, hạn dùng và điều kiện bảo quản khi giao.
Chính quyền có hỗ trợ gì cho làng nghề không?
Có các chương trình hỗ trợ phát triển ngành nghề nông thôn, đào tạo nghề, xúc tiến thương mại, chương trình mỗi xã một sản phẩm. Mức hỗ trợ và điều kiện tham gia thay đổi theo thời kỳ. Người làm nghề nên hỏi UBND xã để biết chương trình đang áp dụng.
Trẻ em trong làng phụ giúp làm nghề có sao không?
Phụ giúp việc nhẹ, an toàn, ngoài giờ học là cách truyền nghề tự nhiên ở nhiều làng. Tuy vậy không để trẻ làm việc nặng, việc gần máy móc, lửa, nước sôi, và không để việc nghề ảnh hưởng học tập, sức khoẻ của trẻ.