Một chiếc nón làng Chuông được làm qua chừng sáu công đoạn chính: chọn và phơi lá, là cho lá phẳng, dựng khung vành tre, xếp hai lớp lá kẹp mo nang ở giữa, khâu kín bằng chỉ và cuối cùng nức vành, hoàn thiện. Làng Chuông thuộc xã Phương Trung cũ của huyện Thanh Oai; từ 7/2025 Phương Trung cùng thị trấn Kim Bài và một số xã lân cận hợp lại thành xã Thanh Oai của Hà Nội. Nghề nón ở đây được nhắc đến từ lâu đời và vẫn là nghề tay nhiều nhà còn giữ.
Người ngoài thường nghĩ làm nón chủ yếu là khâu. Thợ trong làng lại nói phần quyết định nằm ở lá: lá chọn không kỹ, là không đều tay thì khâu khéo mấy nón cũng ố, cũng cong. Bài dưới đây đi lần lượt từng công đoạn theo cách người làng kể, chỉ ra chỗ nào cần kinh nghiệm, chỗ nào trẻ con trong nhà phụ được, và vì sao nón Chuông được chuộng ở chỗ bền và thanh.
Lá nón: nguyên liệu quyết định nửa chiếc nón
Lá dùng làm nón là lá của cây nón, một loại cây họ cau mọc nhiều ở vùng đồi phía Bắc Trung Bộ. Làng Chuông không trồng loại lá này; lá được cắt ở nơi khác, phơi sơ rồi bó thành từng bó chở về. Người buôn lá lâu năm phân biệt được lá non, lá bánh tẻ, lá già chỉ bằng cách cầm bó lá lên, sờ gân và nhìn màu. Lá non quá thì mỏng, dễ rách khi khâu; lá già thì cứng, gân to, khó là phẳng.
Về đến nhà, lá được trải ra phơi tiếp. Thợ trong làng hay nói tới chuyện phơi sương: lá phơi nắng cho khô rồi để qua đêm ngoài sân cho hơi sương làm mềm trở lại, nhờ vậy lá dẻo, trắng mà không giòn. Ngày nồm ẩm của mùa xuân đồng bằng Bắc Bộ là thời điểm khó, lá dễ lên mốc, nhiều nhà phải dồn lá vào chỗ khô, hong lại trước khi dùng.
Sau khi phơi, lá được chọn lần nữa. Lá đẹp nhất, trắng, mặt mịn, không vết xước dành cho lớp ngoài cùng, phần người mua nhìn thấy. Lá kém hơn, có đốm, có vệt dành cho lớp trong. Việc chọn này tốn thời gian nhưng không đòi tay nghề cao, nên thường giao cho người già hoặc trẻ em trong nhà phụ giúp.
Là lá: công đoạn cần lửa và tay quen
Lá phơi xong vẫn còn nhăn, quăn theo thớ. Để xếp được lên khung, lá phải được là phẳng. Cách làm truyền thống ở các làng nón Bắc Bộ, trong đó có làng Chuông, diễn ra theo trình tự đại thể như sau:
- Nhóm bếp than nhỏ, đặt lên trên một tấm kim loại phẳng, xưa là lưỡi cày hay miếng gang, nay nhiều nhà dùng tấm sắt dày.
- Chờ tấm kim loại nóng vừa, thợ thử bằng cách đặt một mẩu lá lên: lá xém vàng nhanh là quá nóng, lá chỉ hơi ấm là chưa đủ.
- Đặt lá lên mặt nóng, dùng một nắm giẻ cuộn tròn miết dọc theo sống lá, từ cuống ra ngọn, một lần cho dứt khoát.
- Lật lá, kiểm tra độ phẳng và màu. Lá đạt là lá phẳng, trắng đều, không cháy mép.
- Xếp lá đã là thành chồng, đè nhẹ cho giữ dáng, rồi cắt bớt cuống và ngọn theo khổ nón định làm.
Là lá vừa cần sức vừa cần mắt. Nóng một chút là lá xém, để lại vệt nâu trên lớp ngoài, chiếc nón coi như xuống loại. Người lành nghề là được nhiều lá liền tay mà màu đều như nhau, đó là thứ không học trong một mùa.
Dựng khung và chuốt vành
Khung nón là một bộ khuôn hình chóp làm bằng gỗ, trên đó người thợ đặt các vòng vành tre tròn, to dần từ đỉnh xuống miệng. Vành được chuốt từ tre hoặc giang, chẻ nhỏ, vót tròn, đều tay từ đầu đến cuối rồi uốn thành vòng và nối mối. Vành không đều thì nón méo, chỗ phồng chỗ lép, nhìn ngang là thấy ngay.
Ở nhiều gia đình, chuốt vành là việc của đàn ông, còn xếp lá và khâu là việc của phụ nữ. Sự phân công này không cứng nhắc, nhưng nó giải thích vì sao một chiếc nón thường là sản phẩm của cả nhà, không phải của một người. Có nhà không tự chuốt vành mà mua vành làm sẵn ở chợ, nhất là khi làm số lượng lớn.
Khung được đặt nghiêng trên một giá thấp để người thợ ngồi xoay quanh. Các vòng vành được cài lên khung theo các khấc đã đánh dấu, khoảng cách giữa các vòng đều nhau. Bước này nhanh nếu khung và vành chuẩn, nhưng chỉ một vòng lệch là cả chiếc nón phải tháo ra làm lại.
Xếp lá và lót mo nang
Lớp lá trong được xếp trước. Thợ đặt từng chiếc lá lên khung, ngọn hướng về đỉnh, gối mép lên nhau, xoay dần cho kín một vòng. Số lá mỗi lớp tuỳ khổ nón và tuỳ độ rộng của lá.
Mo nang nằm giữa hai lớp lá. Nón Chuông được biết đến với lớp mo nang, tức bẹ măng tre hoặc nứa phơi khô, lót giữa lớp lá trong và lớp lá ngoài. Lớp mo này làm nón cứng cáp, giữ dáng lâu, chịu được mưa nắng hơn nón chỉ có lá.
Lớp lá ngoài là lớp đẹp nhất. Những chiếc lá trắng, mịn đã chọn riêng được xếp lên cuối cùng. Người thợ chú ý cho các đường gối lá thẳng hàng theo đường sinh của chóp nón, nhìn từ xa thấy mặt nón liền một màu.
Đỉnh nón cần xử lý riêng. Phần chóp là nơi nhiều lá dồn về một điểm, dễ dày cộm và dễ thủng. Thợ lành nghề cắt tỉa ngọn lá cho vừa, xếp sao cho đỉnh nhọn, gọn, không phồng.
Khâu nón: đường kim làm nên tiếng của làng
Khi các lớp lá đã nằm yên trên khung, người thợ bắt đầu khâu. Mỗi đường khâu chạy quanh một vòng vành, kim xuyên qua lá, ôm lấy vành tre rồi trở ra. Mũi khâu phải đều, khoảng cách giữa các mũi bằng nhau, chỉ kéo vừa căng: căng quá thì rách lá, lỏng quá thì lá xô, nón mau xệ.
Ngày trước người làng dùng sợi móc, một loại sợi lấy từ cây móc, bền và có màu tự nhiên. Ngày nay phần lớn dùng chỉ cước trong suốt hoặc chỉ màu trắng mảnh, vừa dễ kiếm vừa không lộ trên mặt nón. Có nơi vẫn giữ sợi móc cho những chiếc nón làm theo lối cũ hoặc theo đơn đặt riêng.
Khâu là công đoạn lâu nhất và cũng là chỗ để người mua đánh giá tay nghề. Nhìn mặt trong chiếc nón, đường khâu thẳng, mũi nhỏ, đều tăm tắp là dấu hiệu của người làm lâu năm. Ở làng Chuông, nhiều phụ nữ khâu nón trong lúc trông con, nghe đài, chuyện trò với hàng xóm; tiếng kim luồn qua lá sột soạt là âm thanh quen thuộc của những buổi trưa trong làng.
Thời gian khâu một chiếc nón tuỳ loại nón và tay người làm. Nón dày, nhiều vòng tốn công hơn nón mỏng. Không nên tin những con số rất cụ thể truyền miệng về số chiếc mỗi ngày, vì chúng thay đổi theo người, theo mùa và theo việc nhà.
Công đoạn, người làm và điều cần để ý
Bảng dưới gom các công đoạn chính theo cách phân việc phổ biến trong một gia đình làm nón. Đây là bức tranh chung, mỗi nhà có cách sắp xếp riêng.
| Công đoạn | Thường do ai làm | Cái khó |
|---|---|---|
| Chọn, phơi lá | Người già, trẻ em phụ | Tránh lá mốc ngày nồm, phân loại đúng lớp trong lớp ngoài |
| Là lá | Người có kinh nghiệm | Giữ lửa vừa, miết đều tay, không xém mép |
| Chuốt vành, dựng khung | Thường là đàn ông | Vành tròn đều, nối mối chắc, cài đúng khấc |
| Xếp lá, lót mo | Thợ chính | Đường gối lá thẳng, đỉnh gọn, mo phủ kín |
| Khâu | Phụ nữ, thợ lâu năm | Mũi đều, chỉ căng vừa, không rách lá |
| Nức vành, hoàn thiện | Thợ chính | Vành miệng chắc, nón tròn, quét lớp bảo vệ đều |
Nhìn bảng sẽ thấy vì sao làm nón khó tách ra thành dây chuyền ở xưởng lớn: mỗi bước dựa vào mắt và tay của người làm, sai ở bước trước thì bước sau không sửa được.
Những lỗi hay gặp và cách thợ trong làng xử lý
Lá xém khi là. Vệt nâu trên lá không tẩy được. Thợ chuyển chiếc lá ấy xuống lớp trong, nơi có lớp lá ngoài che phủ. Vì vậy nhà làm nón luôn chừa dư lá tốt, không bao giờ là vừa khít số lá cần cho lớp ngoài.
Đường gối lá lệch. Khi các mép lá không chạy thẳng theo đường từ đỉnh xuống miệng, mặt nón trông như bị xoắn. Lỗi này phải phát hiện trước khi khâu; người làm lâu năm thường xoay khung, nheo mắt nhìn từ nhiều phía rồi mới hạ kim.
Mũi khâu thưa dần về cuối. Người mới học hay khâu chặt ở mấy vòng đầu rồi thả lỏng ở các vòng sau vì mỏi tay. Nhìn mặt trong sẽ thấy ngay. Thợ giỏi giữ nhịp đều từ vòng chóp tới vòng miệng, nghỉ tay giữa chừng chứ không khâu vội.
Vành nối mối yếu. Mối nối vành to ở miệng nón là chỗ chịu lực nhiều nhất khi người dùng cầm, quạt, đội gió. Mối nối không chắc thì sau một thời gian vành bung, lá ở mép xô ra. Vì thế khâu nức vành được làm dày và kỹ hơn các vòng trong.
Nón cất khi chưa khô hẳn. Làm xong gặp ngày nồm mà xếp chồng nón lại ngay thì chỉ ít hôm là có đốm mốc. Nhà làm nón hong nón ở chỗ thoáng, có khi hơ lại trên bếp trước khi xếp kho hay giao cho người buôn.
Hoàn thiện và vì sao nón Chuông bền
Khâu xong, chiếc nón được gỡ khỏi khung. Phần vành miệng, vòng to nhất, được nức kỹ để giữ chặt mép lá, chống bung khi dùng lâu. Sau đó nhiều nhà hơ nón cho khô kiệt và quét một lớp dầu bóng mỏng lên mặt ngoài, giúp nón chống thấm, chống mốc và có độ bóng nhẹ. Quai nón thường được buộc sau, tuỳ người mua chọn loại quai.
Độ bền của nón Chuông đến từ nhiều thứ cộng lại: lá được chọn và là kỹ, lớp mo nang làm cốt cứng, vành chuốt đều và đường khâu dày. Một chiếc nón làm cẩn thận, dùng và cất đúng cách có thể theo người dùng nhiều mùa. Ngược lại, nón làm vội, lá không đều, khâu thưa thì chỉ qua vài trận mưa là xô lá, ố mặt.
Cũng cần nói thẳng: không phải chiếc nón nào bán ở chợ Chuông hay mang tên làng Chuông đều làm hết các công đoạn trên tại làng. Có hàng làm ở nơi khác đưa về, có hàng làm nhanh cho khách du lịch. Người muốn mua nón làm kỹ nên hỏi thẳng người bán về nguồn gốc, lật mặt trong xem đường khâu, và chấp nhận rằng nón làm kỹ cần thời gian.
Câu hỏi thường gặp
Làng Chuông nay thuộc xã nào của Hà Nội?
Làng Chuông trước đây thuộc xã Phương Trung, huyện Thanh Oai. Từ ngày 1/7/2025 Hà Nội bỏ cấp huyện, Phương Trung hợp cùng thị trấn Kim Bài và các xã Đỗ Động, Thanh Mai, Kim An, Kim Thư thành xã Thanh Oai mới. Khi ghi địa chỉ nên ghi tên làng kèm xã Thanh Oai, thành phố Hà Nội.
Nón làng Chuông khác nón lá các vùng khác ở điểm nào?
Điểm hay được nhắc là lớp mo nang lót giữa hai lớp lá, giúp nón cứng và giữ dáng lâu, cùng đường khâu dày, đều. Ngoài ra lá được là kỹ nên mặt nón phẳng và trắng. Mỗi vùng nón có cách làm riêng, nên so sánh hơn kém không có nhiều ý nghĩa, chỉ nên hiểu đặc điểm.
Có thể đến làng Chuông xem người ta làm nón không?
Nhiều gia đình trong làng vẫn làm nón tại nhà, đi qua ngõ có thể thấy người ngồi khâu ở hiên. Muốn đứng xem lâu hoặc chụp ảnh thì nên hỏi chủ nhà trước, giữ ý vì đó là nơi họ sinh sống và làm việc. Một số nhà sẵn lòng giải thích công đoạn nếu khách hỏi han lịch sự.
Mất bao lâu để học làm được một chiếc nón hoàn chỉnh?
Học khâu những mũi đầu tiên không khó, trẻ con trong làng thường biết từ sớm. Nhưng làm trọn một chiếc nón đẹp, từ là lá đến nức vành, cần nhiều năm làm quen tay. Phần khó nhất người làng hay nhắc là là lá và giữ mũi khâu đều trên cả chiếc nón.
Vì sao nón lá để lâu bị ố vàng hoặc lên mốc?
Lá nón là vật liệu tự nhiên, hút ẩm. Để nón ở chỗ ẩm, nhất là mùa nồm, hoặc cất khi nón còn ướt thì dễ lên mốc, ố màu. Lớp dầu bóng giúp hạn chế nhưng không chống được mãi. Nón nên được phơi khô sau khi đi mưa và treo ở chỗ thoáng.
Nón Chuông có được làm theo đặt hàng số lượng lớn không?
Nhiều hộ nhận làm theo đơn của người buôn hoặc đơn vị đặt quà tặng, biểu diễn. Với đơn lớn, người đặt nên thống nhất trước về loại lá, độ dày, quai và thời gian giao, vì nón làm tay cần thời gian và phụ thuộc mùa lá. Chuyện giá cả và hợp đồng nên bàn trực tiếp với hộ làm nghề.