Cự Đà là làng cổ nằm sát bờ sông Nhuệ, trước thuộc xã Cự Khê, nay thuộc xã Bình Minh, Hà Nội; đi một buổi sáng là đủ để dạo hết những ngõ có nhà cổ, xem sân phơi miến và các nhà làm tương. Thứ làm Cự Đà khác các làng khác là những ngôi nhà xây theo lối pha trộn Á – Âu, có cửa vòm, ban công, phù điêu, đứng xen với nhà mái ngói kiểu cũ và nhà mới.
Cự Đà không phải bảo tàng. Các ngôi nhà cổ vẫn có người ở, sân phơi miến là nơi làm ăn của các gia đình, ngõ xóm là đường đi lại hằng ngày. Đi Cự Đà cho đúng nghĩa là biết mình đang là khách trong một làng còn sống, và phần dưới đây xoay quanh cách đi như vậy.
Cự Đà nằm ở đâu và vì sao có nhiều nhà cổ
Làng nằm ở phía Bắc vùng Thanh Oai cũ, giáp với Hà Đông, kéo dài theo bờ sông Nhuệ. Ngày trước sông là đường giao thương chính, thuyền buôn đi lại, nên Cự Đà có một bộ phận người làng làm buôn bán, có của ăn của để. Vào khoảng cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, nhiều gia đình khá giả trong làng xây nhà kiên cố, tiếp nhận kiểu trang trí và kết cấu chịu ảnh hưởng kiến trúc Pháp nhưng vẫn giữ bố cục nhà Việt bên trong.
Kết quả là ngày nay đi trong làng, bạn sẽ gặp những mặt tiền có cột, có vòm cửa cong, có hoa văn đắp nổi, đôi khi có chữ Hán hay năm xây trên đầu hồi, đứng sát những ngôi nhà ba gian mái ngói, những nếp nhà ống mới xây. Sự xen lẫn ấy chính là đặc điểm của Cự Đà, một làng ven đô đã đi qua nhiều lớp thời gian chứ không đứng yên ở một thời điểm.
Bên cạnh nhà cổ, làng còn có đình, chùa, cổng xóm, giếng, các bến nước dọc sông. Nếu đi kỹ, bạn sẽ thấy cách tổ chức không gian: xóm chạy theo sông, ngõ vuông góc với bờ, mỗi ngõ dẫn xuống một bến, rất điển hình cho các làng sống nhờ dòng nước.
Nên đến lúc nào trong ngày
Buổi sáng là thời điểm đẹp nhất. Khoảng sau bình minh đến giữa buổi, ánh nắng còn xiên, các bức tường vàng, tường vôi của nhà cổ lên màu đẹp, và nếu là ngày nắng ráo thì các nhà làm miến đã bắt đầu mang phên miến ra phơi. Sáng sớm làng cũng yên, ít xe qua lại trong ngõ, đi bộ thong thả hơn.
Buổi trưa ở Cự Đà khá nắng vì nhiều khoảng sân phơi rộng, ít bóng cây. Mùa hè nên tránh đi bộ lâu giữa trưa. Buổi chiều muộn thì dễ chịu hơn, ánh sáng dịu, nhưng miến thường đã được thu lại và người làng bắt đầu nấu cơm, nên không khí khác buổi sáng.
Ngày thường trong tuần làng vắng hơn cuối tuần, vì cuối tuần các nhóm chụp ảnh và khách từ nội thành về khá đông, nhất là vào mùa thu và những tháng đầu năm. Nếu bạn có thể sắp xếp đi một buổi sáng thứ Hai hay thứ Ba, những con ngõ sẽ gần như chỉ còn người làng, và cơ hội được trò chuyện với các cụ ngồi trước cửa cũng nhiều hơn. Người già trong làng thường nhớ rõ ngôi nhà nào do ai xây, đời nào, và đó là những câu chuyện không có trong tài liệu nào.
Về mùa, ngày khô ráo là lúc làng làm miến nhiều; ngày mưa phùn, nồm ẩm thì sân phơi vắng hẳn. Nếu mục đích chính là xem phơi miến, bạn nên xem dự báo thời tiết và chọn hôm trời nắng hoặc hanh. Nếu chỉ muốn xem nhà cổ, ngày âm u lại cho ánh sáng mềm, chụp tường cũ rất đẹp.
Một lối đi bộ gợi ý trong làng
Làng không có bản đồ tham quan chính thức, và các ngõ khá giống nhau nên dễ đi vòng lại chỗ cũ. Lối dưới đây là cách sắp xếp hợp lý, bạn có thể điều chỉnh theo thực tế.
- Gửi xe ở khu vực đầu làng, gần đình hoặc chỗ đất rộng, hỏi người dân xem nơi nào để xe không cản lối.
- Đi ra bờ sông Nhuệ trước, men theo đường ven sông để nhìn toàn cảnh dãy nhà quay mặt ra nước.
- Rẽ vào các ngõ vuông góc với bờ sông; những ngõ cũ thường hẹp, lát gạch, hai bên có nhà mái ngói hoặc nhà có mặt tiền trang trí.
- Tìm khu sân phơi miến, thường là các bãi đất trống, sân nhà rộng hoặc khoảng đất ven làng; đứng ngoài quan sát trước, xin phép rồi mới lại gần.
- Ghé đình và chùa làng để nghỉ chân, xem kiến trúc và ngồi dưới bóng cây.
- Kết thúc ở một nhà làm tương hoặc làm miến nếu bạn muốn mua đồ mang về, hỏi giá rõ trước khi lấy hàng.
Cả lối này đi chậm mất khoảng hai đến ba giờ. Nếu đi cùng người lớn tuổi hoặc trẻ nhỏ, bạn có thể bỏ bớt đoạn ven sông và tập trung vào vài ngõ chính.
Nhìn gì ở một ngôi nhà cổ Cự Đà
Mặt tiền: Để ý các cột trụ, vòm cửa, ban công, gờ chỉ, hoa văn đắp vữa. Nhiều nhà có mảng trang trí kết hợp mô típ phương Tây với hình rồng, hoa lá, chữ Hán. Đây là dấu vết của thời kỳ giao thoa, không hẳn Tây, không hẳn ta.
Cửa và cửa sổ: Cửa gỗ nhiều lớp, cửa chớp, khung sắt uốn là chi tiết dễ chụp. Một số nhà còn giữ cửa gỗ cũ, một số đã thay mới; sự khác biệt ấy cho thấy mỗi gia đình giữ nhà theo cách riêng.
Mái và đầu hồi: Nhìn lên đầu hồi, đôi khi có ghi năm xây hoặc tên nhà. Mái ngói, mái bằng, lan can mái là những phần thường đã được sửa chữa qua nhiều lần.
Sân và giếng: Một số nhà có sân lát gạch, có giếng hoặc bể nước. Đây là phần riêng tư của gia đình, chỉ nhìn từ ngoài cổng nếu chưa được mời vào.
Dấu vết sinh hoạt: Chum tương, phên miến, xe đạp dựng cửa, dây phơi quần áo. Những thứ này làm nên sự sống của làng; chụp chúng một cách tôn trọng đẹp hơn mọi tấm ảnh dàn dựng.
Ứng xử khi đi trong một làng còn người ở
Điều đầu tiên là không tự ý vào nhà, kể cả khi cổng mở. Nhiều ngôi nhà cổ đẹp nhất là nhà đang có người sống, và chủ nhà không có nghĩa vụ tiếp khách. Nếu muốn xem bên trong, hãy chào hỏi, giới thiệu ngắn mình là ai, muốn xem gì, và chấp nhận nếu được từ chối. Có chủ nhà vui vẻ mời vào, có người bận việc, cả hai đều bình thường.
Thứ hai là chụp ảnh người phải xin phép, nhất là cận mặt. Người làm miến, làm tương đang lao động, có thể không muốn bị chụp lúc lấm lem. Một câu hỏi lịch sự thường được đáp lại bằng sự cởi mở, còn giơ máy lên chụp ngay thì dễ làm người ta khó chịu.
Thứ ba là giữ yên lặng và sạch sẽ. Không mở loa, không đi thành đoàn đông chắn ngõ, không vứt rác, không giẫm lên phên miến hay ngồi lên chum tương để tạo dáng. Nhóm chụp ảnh cưới, ảnh kỷ yếu nên hỏi trước người dân hoặc chính quyền thôn về chỗ chụp và thời gian.
Miến và tương: hai nghề bạn sẽ gặp ngay trong làng
Đi Cự Đà gần như chắc chắn bạn sẽ gặp hai thứ: những phên miến phơi trắng sân và những hàng chum sành ủ tương. Miến Cự Đà làm từ tinh bột dong riềng, qua các công đoạn tráng bánh, phơi, cắt sợi, phơi lại. Công đoạn phơi cần nắng và gió, nên các sân phơi là nơi sôi động nhất vào buổi sáng ngày khô ráo. Bạn có thể đứng ngoài nhìn người làng xếp phên, lật mặt, thu gom, những động tác đều tay đã lặp lại hàng chục năm.
Tương Cự Đà thì gắn với mùa nóng. Đỗ tương rang, xôi nếp ủ mốc, nước muối, rồi tất cả cùng nằm trong chum phơi nắng nhiều tuần. Người làm tương thường mở nắp chum vào buổi sáng, khuấy đều, đậy lại khi trời đổ mưa. Đi ngang các nhà làm tương, bạn sẽ ngửi thấy mùi thơm đặc trưng, hơi ngậy, hơi chua, rất khó nhầm với thứ gì khác.
Hai nghề này được bàn kỹ hơn ở phần ẩm thực và làng nghề của trang. Với người đi chơi, chỉ cần nhớ: đây là chỗ làm ăn của người ta, xem thì đứng gọn, hỏi chuyện thì chọn lúc người làm đang rảnh tay, và nếu muốn mua thì mua ngay tại nhà làm, vừa tươi vừa biết rõ nguồn gốc.
Đỗ xe, ăn uống và những chuyện nhỏ cần biết
Cự Đà không có hạ tầng du lịch riêng, nên những chuyện tưởng nhỏ như gửi xe hay tìm chỗ uống nước đôi khi làm khách lúng túng. Một vài kinh nghiệm thực tế:
- Ô tô nên đỗ ở khoảng đất rộng đầu làng hoặc gần nhà văn hoá, sân đình; đừng cố lái vào ngõ nhỏ vì rất khó quay đầu.
- Xe máy có thể dắt vào ngõ, nhưng tắt máy khi đi qua sân phơi để bụi không bám vào miến.
- Trong làng có vài hàng nước, quán tạp hoá nhỏ; muốn ăn trưa tử tế nên ra phía đường lớn hoặc về phía Hà Đông.
- Nhà vệ sinh công cộng gần như không có; nên giải quyết trước khi vào làng, hoặc lịch sự xin ở quán nước khi mua đồ.
- Mang túi đựng rác riêng, vì thùng rác công cộng không đặt dày như ở phố.
- Ngày mưa đường ven sông và ngõ gạch trơn, nên đi giày đế bám thay vì dép mỏng.
Những chi tiết này nghe vụn vặt, nhưng đó chính là khác biệt giữa một buổi sáng thong thả và một buổi sáng loay hoay tìm chỗ gửi xe, tìm chỗ uống nước.
Kết hợp Cự Đà với điểm khác
Cự Đà nằm ở phía Bắc vùng Thanh Oai nên rất tiện ghép với làng Bình Đà gần đó, nơi có đình và đền thờ Lạc Long Quân. Một buổi sáng ở Cự Đà, đến trưa sang Bình Đà rồi về Hà Đông ăn trưa là lịch nửa ngày gọn gàng.
Nếu đi cả ngày, sau Cự Đà bạn có thể chạy xuống phía Nam theo hướng Kim Bài để ăn trưa, chiều đi làng Chuông xem làm nón, rồi tuỳ thời gian ghé chùa Bối Khê hoặc cổng làng Ước Lễ. Quãng đường giữa các điểm không quá xa nhưng nên tính thời gian dừng nghỉ để không phải vội.
Một lựa chọn khác là ghép Cự Đà với các khu đô thị mới ở phía Hà Đông để thấy hai mặt của vùng ven đô: một bên là làng cổ ven sông, một bên là nhà cao tầng mọc lên trên đất ruộng cũ. Sự đối lập đó cũng là một phần câu chuyện của Thanh Oai hôm nay.
Câu hỏi thường gặp
Làng cổ Cự Đà thuộc xã nào sau sáp nhập?
Làng Cự Đà trước thuộc xã Cự Khê, huyện Thanh Oai. Từ ngày 1/7/2025, Cự Khê cùng Bình Minh, Cao Viên, Bích Hòa, Thanh Cao nhập thành xã Bình Minh, nên Cự Đà nay thuộc xã Bình Minh, thành phố Hà Nội.
Đi Cự Đà có phải mua vé không?
Không có vé vào làng. Cự Đà là làng dân cư bình thường, bạn có thể đi bộ tự do trên đường làng. Việc vào nhà riêng hay nơi làm nghề thì tuỳ chủ nhà cho phép, và mua một ít tương, miến là cách cảm ơn được nhiều người chọn.
Cự Đà có cho chụp ảnh cưới, ảnh kỷ yếu không?
Nhiều nhóm vẫn đến Cự Đà chụp ảnh, nhưng nên hỏi trước người dân hoặc thôn về địa điểm và thời gian, tránh chắn ngõ, tránh giẫm lên phên miến. Một số chủ nhà có thể không đồng ý cho chụp trước cửa nhà mình, và cần tôn trọng điều đó.
Mất bao lâu để đi hết làng Cự Đà?
Đi bộ chậm qua các ngõ có nhà cổ, ven sông, sân phơi miến và đình chùa thường mất khoảng hai đến ba giờ. Nếu chỉ xem nhanh một vài ngõ chính thì khoảng một giờ là đủ, nhưng làng đẹp nhất khi bạn đi thong thả.
Có thể vào bên trong các ngôi nhà cổ không?
Phần lớn nhà cổ ở Cự Đà là nhà đang có người ở, không phải điểm mở cửa tham quan. Bạn có thể chào hỏi, xin phép xem nếu chủ nhà rảnh. Nếu được mời vào, nên đi nhẹ, không sờ vào đồ thờ, đồ cổ, và cảm ơn khi ra về.