Làng nghề ở Thanh Oai không chỉ là văn hoá mà còn là những nền kinh tế nhỏ có chuỗi riêng: nón lá làng Chuông (xã Phương Trung cũ, nay xã Thanh Oai), tương và miến Cự Đà (xã Cự Khê cũ, nay xã Bình Minh), giò chả Ước Lễ (xã Tân Ước cũ, nay xã Dân Hòa) và làng Bình Đà (xã Bình Minh cũ, nay xã Bình Minh) đã chuyển sang làm hàng điện dân dụng. Mỗi làng cho thấy một con đường khác nhau mà nghề truyền thống có thể đi.
Nhìn bằng con mắt kinh tế, câu hỏi không phải là nghề đẹp thế nào mà là nguyên liệu đến từ đâu, ai làm, ai bán, giá trị rơi vào khâu nào và vì sao có làng lớn lên, có làng co lại. Câu trả lời giúp người trong làng, người muốn làm ăn với làng và cả người mua hiểu được chuyện gì đang diễn ra.
Phần quy trình làm nghề và người giữ nghề có ở mục làng nghề truyền thống của trang; món ăn có ở mục ẩm thực. Bài này chỉ nói chuyện tiền và chuỗi. Không có giá hay doanh thu cụ thể vì không có nguồn chắc chắn.
Làng nghề là một chuỗi, không phải một xưởng
Một chiếc nón Chuông đến tay người mua đã đi qua nhiều người hơn bạn nghĩ. Có người ở các tỉnh xa thu hái và phơi lá, người buôn lá chở về chợ Chuông; có người chẻ tre vót vành, người làm khung, người khâu; có mối buôn trong làng gom nón của hàng chục nhà; có người bán sỉ đi các tỉnh, các điểm du lịch; và có người bán lẻ cuối cùng. Mỗi khâu giữ lại một phần giá trị.
Cấu trúc này giống với hầu hết làng nghề Bắc Bộ: sản xuất phân tán trong các hộ, thương mại tập trung vào một số người buôn. Ưu điểm là ai cũng tham gia được với vốn rất nhỏ, làm tại nhà, tận dụng giờ nông nhàn. Nhược điểm là người làm tay thường đứng ở khâu có giá trị thấp nhất và ít quyền thương lượng nhất.
Hiểu chuỗi giúp giải thích một hiện tượng hay gặp: cùng một sản phẩm, giá bán ở thành phố hay điểm du lịch cao hơn nhiều lần giá người thợ nhận. Phần chênh không hẳn là "bóc lột": nó gồm vận chuyển, mặt bằng, hàng tồn, hàng lỗi, thời gian bán và rủi ro của người buôn. Nhưng nó cũng cho thấy chỗ mà người làm nghề có thể giành lại nếu bán trực tiếp được.
Bốn làng, bốn mô hình kinh tế
So sánh định tính, dựa trên đặc điểm nghề đã biết của từng làng; không phải số liệu điều tra.
| Làng | Sản phẩm | Nguyên liệu | Kiểu sản xuất | Kênh bán chính |
|---|---|---|---|---|
| Làng Chuông | Nón lá | Lá nón, tre, chỉ; phần lớn nguyên liệu lá mua từ nơi khác | Thủ công tại hộ, nhiều người lớn tuổi | Mối buôn trong làng, bán sỉ đi các nơi, khách du lịch |
| Cự Đà | Tương, miến | Đậu tương, gạo nếp, tinh bột dong hay sắn | Hộ gia đình, mùa vụ theo thời tiết | Chợ, người quen, khách tham quan làng cổ |
| Ước Lễ | Giò, chả | Thịt lợn, lá chuối, gia vị | Hộ gia đình, nhiều hộ làm quanh năm, cao điểm dịp Tết | Đơn đặt trước, cửa hàng nhiều nơi, mang đi làm ăn xa |
| Bình Đà | Hàng điện dân dụng | Linh kiện, nhựa, kim loại | Xưởng hộ gia đình và doanh nghiệp nhỏ | Đại lý, cửa hàng vật tư điện, công trình |
Bốn làng nằm ở bốn vị trí khác nhau trên một trục: từ thủ công thuần, giá trị gắn với tay nghề và câu chuyện (nón Chuông), qua thực phẩm truyền thống có thương hiệu theo tên làng (Cự Đà, Ước Lễ), đến sản xuất hàng công nghiệp nhẹ (Bình Đà).
Bình Đà: khi một làng bỏ nghề cũ để làm hàng công nghiệp
Bình Đà từng nổi tiếng với nghề làm pháo. Khi pháo nổ bị cấm theo quy định của Nhà nước từ giữa thập niên 1990, làng mất nghề chính. Thay vì co lại, nhiều hộ chuyển sang nghề mới: gia công, rồi sản xuất các mặt hàng điện dân dụng như ổ cắm, công tắc, phích cắm, dây điện và linh kiện liên quan. Từ những xưởng trong nhà, một số hộ lớn lên thành doanh nghiệp.
Bài học kinh tế của Bình Đà nằm ở chỗ: kỹ năng làm ăn, mạng lưới buôn bán và tinh thần chịu rủi ro của làng nghề có thể chuyển sang sản phẩm khác hoàn toàn. Giá trị của "làng nghề" ở đây không nằm trong một kỹ thuật cổ truyền mà trong tổ chức sản xuất và thương mại đã thành nếp.
Mặt trái cũng rõ: sản xuất công nghiệp trong khu dân cư gây tiếng ồn, rác thải nhựa, nguy cơ cháy nổ, và cạnh tranh trực tiếp với hàng của các nhà máy lớn và hàng nhập khẩu. Để đi tiếp, các cơ sở cần đáp ứng tiêu chuẩn an toàn điện, chuyển xưởng ra khu sản xuất tập trung và xây dựng thương hiệu thay vì chỉ cạnh tranh bằng giá.
Nón Chuông: giữ tay nghề trong một thị trường nhỏ dần
Nón lá vẫn được dùng ở nông thôn, nhưng thị trường đã khác xưa. Người làm đồng ít hơn, mũ bảo hiểm và mũ vải thay nón khi đi đường. Phần thị trường còn lại ngày càng nghiêng về nón như sản phẩm văn hoá: nón cho áo dài, nón quà tặng, nón biểu diễn, nón cho khách du lịch. Đây là thị trường trả giá cao hơn cho chất lượng và câu chuyện, nhưng nhỏ và đòi hỏi mẫu mã đẹp.
Kinh tế làng Chuông vì thế phụ thuộc vào việc làng có giữ được hình ảnh "nón Chuông" như một dấu hiệu chất lượng hay không. Khi nón làm nhanh, rẻ, chất lượng không đều cũng mang tên làng, hình ảnh bị pha loãng và cả làng chịu thiệt. Đây là lý do các nỗ lực về chỉ dẫn nguồn gốc, nhãn hiệu tập thể và chương trình sản phẩm địa phương có ý nghĩa với nghề nón.
Một yếu tố nữa là tuổi của người làm. Khâu nón là việc tỉ mỉ, thu nhập theo chiếc không cao, nên người trẻ ít theo. Nếu khoảng cách thu nhập giữa khâu nón và đi làm công nhân quá lớn, nghề sẽ co lại theo thời gian dù hình ảnh làng vẫn còn.
Cự Đà và Ước Lễ: thực phẩm mang tên làng
Tương Cự Đà và giò chả Ước Lễ là trường hợp tên làng trở thành tên sản phẩm. Với người mua, cái tên làng là lời hứa về hương vị và cách làm. Với kinh tế làng, đó là tài sản chung lớn nhất, và cũng là tài sản dễ bị xâm hại nhất: ai cũng có thể in chữ "Ước Lễ" hay "Cự Đà" lên sản phẩm của mình.
Giò chả Ước Lễ có một nét đặc biệt về chuỗi: nhiều người làng mang nghề đi làm ăn ở nơi khác, mở cửa hàng ở Hà Nội và các tỉnh. Vì vậy giá trị của nghề không chỉ nằm trong làng mà theo người đi xa, gửi tiền về quê. Tương Cự Đà thì gắn chặt với làng hơn, vì cách làm tương phụ thuộc vào nắng, vào chum vại và vào kinh nghiệm canh thời tiết của từng nhà.
Cả hai đều chịu sức ép của yêu cầu an toàn thực phẩm. Bán cho người quen và chợ quê thì dễ; muốn vào cửa hàng lớn, siêu thị, sàn thương mại điện tử thì cần đăng ký cơ sở, công bố sản phẩm, nhãn mác đúng quy định. Đây là bước mà nhiều hộ còn ngại vì thủ tục và chi phí, nhưng cũng là bước quyết định để thương hiệu làng đi được xa.
Nguyên liệu: chỗ làng nghề phụ thuộc bên ngoài
Ít ai để ý rằng phần lớn làng nghề Thanh Oai không tự sản xuất nguyên liệu. Lá nón chủ yếu được mua từ các vùng có rừng cọ, rừng lá ở nơi khác rồi đưa về chợ Chuông; đậu tương, gạo nếp làm tương có thể mua ở chợ đầu mối; thịt lợn làm giò là thịt từ các trại khắp vùng; linh kiện, hạt nhựa cho xưởng điện Bình Đà đến từ nhà cung cấp trong và ngoài nước.
Sự phụ thuộc này có hai mặt. Một mặt, làng không bị giới hạn bởi đất đai của mình và có thể làm lớn hơn nhiều so với lượng nguyên liệu tại chỗ. Mặt khác, khi giá nguyên liệu tăng hay nguồn cung gián đoạn, người làm nghề chịu trực tiếp mà khó đẩy sang giá bán. Năm giá thịt lợn tăng mạnh, người làm giò phải chọn giữa giữ giá và chịu lãi mỏng, hoặc tăng giá và mất khách.
Với người muốn làm ăn cùng làng nghề, đây là chỗ đáng chú ý: cung ứng nguyên liệu ổn định, đúng chất lượng cho làng là một mảng kinh doanh thật, thường do vài người buôn lớn nắm giữ.
Làng nghề trước sức ép mặt bằng và đô thị hoá
Làng nghề cần chỗ: sân phơi lá nón, chỗ đặt chum tương ngoài nắng, bếp luộc giò, nhà xưởng cho máy ép nhựa. Khi đất làng ngày càng có giá và nhà cửa xây kín, mặt bằng sản xuất trở thành chi phí lớn và nguồn va chạm. Hàng xóm mới chuyển đến không chịu được mùi tương, tiếng máy hay khói bếp.
Các cụm công nghiệp làng nghề được quy hoạch để giải bài toán này: đưa phần sản xuất ra khu tập trung, giữ phần trưng bày và bán hàng trong làng. Việc chuyển ra không dễ vì tốn tiền thuê, xa nhà, và với nghề thủ công thì mất đi không khí làng nghề mà khách tham quan muốn thấy.
Lối đi thường thấy ở các làng thành công là tách hai phần: sản xuất gây ô nhiễm ra khu riêng, còn nghề thủ công sạch như khâu nón vẫn ở lại trong nhà, trở thành một phần của trải nghiệm làng.
Ai giữ phần lớn giá trị và làm sao để người làm giữ được nhiều hơn
Người buôn nắm thị trường. Trong cả bốn làng, người gom hàng và người có mối bán sỉ thường giữ phần giá trị lớn hơn người làm. Họ chịu rủi ro hàng tồn và có vốn quay vòng.
Bán trực tiếp rút ngắn chuỗi. Bán qua mạng xã hội, sàn thương mại điện tử hay đón khách tham quan tại làng giúp người làm giữ lại phần chênh, đổi lại phải lo chụp ảnh, đóng gói, giao hàng, chăm khách.
Thương hiệu tập thể bảo vệ tên làng. Nhãn hiệu tập thể hay chỉ dẫn địa lý, khi có, giúp phân biệt hàng thật của làng với hàng mượn tên, nhưng chỉ hiệu quả nếu làng tự giữ chất lượng.
Du lịch làng nghề cộng thêm giá trị. Khách đến xem làm nón, làm tương, đi trong làng cổ sẵn sàng trả cho trải nghiệm và mua hàng tại chỗ. Chuyện đi chơi các làng có ở mục điểm đến cuối tuần của trang.
Tổ chức là chìa khoá. Hợp tác xã hoặc hiệp hội làng nghề hoạt động thật có thể mua chung nguyên liệu, giữ chuẩn chất lượng và đàm phán với người mua lớn, điều từng hộ không làm được.
Câu hỏi thường gặp
Làm nghề nón ở làng Chuông có đủ sống không?
Với phần đông người làm, khâu nón là thu nhập phụ chứ không phải nguồn sống chính, nhất là với người lớn tuổi làm lúc nông nhàn. Thu nhập theo chiếc và theo loại nón. Những hộ làm nón cao cấp, có mẫu riêng và bán trực tiếp được thì khá hơn, nhưng số đó không nhiều.
Vì sao Bình Đà không còn làm pháo?
Vì pháo nổ bị cấm theo quy định của Nhà nước từ giữa thập niên 1990. Làng Bình Đà chuyển sang sản xuất hàng điện dân dụng và một số nghề khác. Câu chuyện chuyển nghề này được kể chi tiết hơn ở mục làng nghề truyền thống của trang.
Làm sao biết giò chả đúng là của làng Ước Lễ?
Tên làng in trên bao bì không đủ để chứng minh. Nên mua ở cơ sở có địa chỉ rõ ràng, có nhãn mác và thông tin cơ sở sản xuất theo quy định, hoặc mua tại làng khi có dịp về Tân Ước cũ. Người làng Ước Lễ mở hàng ở nơi khác cũng nhiều, hỏi kỹ nguồn gốc là cách đơn giản nhất.
Muốn lấy hàng làng nghề Thanh Oai về bán thì bắt đầu từ đâu?
Nên đến tận làng, gặp các mối buôn và hộ sản xuất, xem hàng và hỏi về số lượng, mẫu mã, thời gian giao. Với thực phẩm như tương, giò chả, cần kiểm tra giấy tờ an toàn thực phẩm của cơ sở. Có thể tra các doanh nghiệp, cơ sở đã đăng ký trên địa bàn trong danh bạ doanh nghiệp của trang.
Làng nghề có gây ô nhiễm không?
Tuỳ nghề. Nghề nón thủ công gần như không gây ô nhiễm đáng kể. Làm thực phẩm có nước thải hữu cơ cần xử lý. Sản xuất hàng điện, nhựa, kim loại trong khu dân cư có tiếng ồn, rác thải và nguy cơ cháy nổ, nên hướng đi chung là đưa xưởng ra khu sản xuất tập trung.
Sau sáp nhập xã, tên làng nghề có thay đổi không?
Không. Làng Chuông, Cự Đà, Ước Lễ, Bình Đà là tên làng, tên thôn, vẫn giữ nguyên trong giao tiếp, tên di tích và tên sản phẩm. Chỉ có địa chỉ hành chính ghi theo xã mới: Thanh Oai, Bình Minh, Dân Hòa thay cho các xã cũ.