Đồng ruộng vùng Thanh Oai cũ nằm trong hệ thống thuỷ lợi của sông Nhuệ và sông Đáy. Sông Nhuệ ở phía đông nhận nước từ sông Hồng qua cống Liên Mạc rồi chảy xuống phía nam, vừa là nguồn tưới, vừa là đường tiêu nước cho cả một vùng rộng của Hà Nội. Sông Đáy ở phía tây là con sông lớn hơn, gắn với lịch sử phân lũ của sông Hồng. Giữa hai sông là mạng kênh mương, cống và trạm bơm điều tiết nước cho từng cánh đồng.
Với người làm nông ở đây, nước là chuyện của hai mùa ngược nhau. Mùa khô đầu năm cần lấy nước để làm đất, cấy vụ chiêm; mùa mưa giữa năm lại cần tiêu nước thật nhanh để lúa mùa không bị úng. Cả hai việc đều phụ thuộc vào hệ thống chung, không hộ nào tự làm được.
Bài này giải thích hệ thống ấy vận hành ra sao ở mức người dân cần biết, vì sao phía nam hay úng, câu chuyện ô nhiễm sông Nhuệ ảnh hưởng tới nông nghiệp thế nào và ai chịu trách nhiệm phần nào. Không có tên trạm bơm, số liệu lưu lượng hay mức phí cụ thể trong bài.
Hai con sông và một vùng trũng
Sông Nhuệ là con sông đào và cải tạo, nhận nước sông Hồng ở cống Liên Mạc phía bắc Hà Nội, chảy qua phía tây nội thành, qua Hà Đông rồi xuống Thanh Oai, tiếp tục về phía nam trước khi đổ vào sông Đáy ở vùng Hà Nam cũ. Dọc đường, sông nhận nước tiêu từ đô thị và đồng ruộng hai bên, đồng thời cấp nước cho các kênh tưới. Đoạn qua Thanh Oai chảy ở phía đông vùng, ven các làng như Cự Đà, Bối Khê.
Sông Đáy chảy dọc phía tây vùng, là ranh giới tự nhiên với vùng Chương Mỹ cũ. Trong lịch sử, sông Đáy được dùng làm đường phân lũ cho sông Hồng khi nước lớn đe doạ Hà Nội. Ngày nay vai trò phân lũ ấy đã thay đổi theo các công trình thượng nguồn, nhưng vùng ven sông Đáy vẫn mang dấu vết của một vùng đất thấp quen với nước.
Giữa hai sông, địa hình vùng Thanh Oai thấp dần từ bắc xuống nam. Nước mưa và nước tiêu từ các vùng phía trên dồn xuống, khiến phía nam, nơi các xã cũ Dân Hòa, Hồng Dương, Liên Châu, Cao Xuân Dương, Tân Ước, trở thành vùng trũng chậm thoát. Đây là gốc của nhiều vấn đề trong nông nghiệp ở phía nam mà các bài khác trong mục đã nhắc.
Hệ thống thuỷ lợi gồm những tầng nào
Công trình đầu mối và sông trục. Cống lấy nước từ sông Hồng, các đập, cống điều tiết trên sông Nhuệ và trạm bơm lớn do đơn vị quản lý khai thác công trình thuỷ lợi của thành phố vận hành. Người dân ít khi tiếp xúc trực tiếp nhưng chịu ảnh hưởng của mọi quyết định đóng mở ở tầng này.
Kênh chính và kênh nhánh. Dẫn nước từ sông trục vào các vùng tưới và dẫn nước tiêu ra sông. Kênh bê tông hoá giúp dẫn nước nhanh, ít thất thoát hơn kênh đất.
Trạm bơm cục bộ. Ở vùng trũng, nước không tự chảy ra sông được khi mực sông cao, nên phải bơm. Trạm bơm tiêu là thứ quyết định ruộng có bị úng lâu hay không trong những trận mưa lớn.
Kênh mương nội đồng. Mương nhỏ dẫn nước tới từng thửa ruộng, bờ vùng bờ thửa giữ nước. Tầng này thường do hợp tác xã hoặc tổ dùng nước ở thôn quản lý và nạo vét.
Thửa ruộng. Người trồng lúa mở bờ lấy nước, tháo nước theo lịch chung. Một thửa tự ý giữ nước hay tháo nước sai lịch có thể ảnh hưởng ruộng bên cạnh.
Mùa khô: lấy nước cho vụ chiêm
Đầu năm, khi chuẩn bị gieo cấy vụ chiêm xuân, cả đồng bằng sông Hồng cần nước cùng lúc. Mực nước sông Hồng mùa khô xuống thấp trong nhiều năm gần đây khiến việc lấy nước qua các cống đầu mối gặp khó khăn, và các đợt xả nước từ hồ thuỷ điện thượng nguồn được bố trí để hỗ trợ đổ ải cho vùng đồng bằng. Lịch lấy nước được thông báo cho các địa phương để làm đất đồng loạt.
Với người nông dân ở Thanh Oai, điều đó có nghĩa là phải theo lịch chung: khi có nước thì làm đất ngay, không chờ. Thôn nào chậm có thể lỡ đợt nước, phải bơm thêm, tốn chi phí. Hợp tác xã và trưởng thôn thường thông báo qua loa truyền thanh hay nhóm tin nhắn khi có nước về kênh.
Một vấn đề khác của mùa khô là chất lượng nước. Khi lưu lượng sông thấp, nồng độ ô nhiễm trong nước sông Nhuệ có thể cao hơn vì lượng nước thải đổ vào không giảm mà nước pha loãng ít đi. Đây là lúc người nuôi cá và người trồng rau cần thận trọng nhất với nước lấy từ kênh.
Mùa mưa: cuộc chạy đua tiêu úng
Từ giữa năm, mưa lớn đổ xuống trong khi lúa mùa vừa cấy. Nước từ đô thị Hà Đông, từ các khu đô thị mới và từ đồng ruộng phía trên cùng đổ về các trục tiêu. Khi mực nước sông Nhuệ cao, nước trong đồng không tự chảy ra được, phải trông vào trạm bơm. Nếu mưa vượt quá năng lực bơm, ruộng trũng ngập trong nhiều ngày và lúa non chết.
Đô thị hoá làm bài toán tiêu úng khó thêm. Mỗi khu đô thị mới là một diện tích bê tông không thấm nước, nước mưa chảy nhanh hơn và nhiều hơn vào hệ thống vốn được thiết kế cho đồng ruộng. Ao hồ bị lấp để xây dựng làm mất chỗ trữ nước tạm thời. Vì vậy những năm mưa lớn, vùng nông thôn phía nam thường chịu phần thiệt của việc đô thị phía trên tiêu nước.
Các dự án nâng cấp trạm bơm, nạo vét sông Nhuệ và kênh tiêu đã và đang được thành phố triển khai theo từng giai đoạn. Người dân nên theo dõi thông tin về các công trình này qua chính quyền xã, vì chúng ảnh hưởng trực tiếp đến kế hoạch thời vụ và lựa chọn chuyển đổi cây trồng.
Sông Nhuệ ô nhiễm: nông nghiệp chịu ảnh hưởng gì
Ô nhiễm sông Nhuệ là đề tài được báo chí và các cơ quan môi trường nhắc đến nhiều năm. Nguồn chính được nêu là nước thải sinh hoạt và sản xuất chưa xử lý đầy đủ từ khu vực đô thị phía thượng nguồn, cùng nước thải làng nghề, chăn nuôi dọc hai bờ. Mức độ ô nhiễm thay đổi theo mùa và theo đoạn sông, và thành phố đã có các chương trình xử lý nước thải, làm sạch sông theo từng giai đoạn.
Với nông nghiệp ở Thanh Oai, ảnh hưởng thể hiện ở ba điểm. Thứ nhất, nuôi cá bằng nước lấy trực tiếp từ kênh nhận nước sông có rủi ro cá chết khi nước xấu. Thứ hai, rau tưới bằng nước kênh khó đạt yêu cầu của người mua khó tính và các tiêu chuẩn như VietGAP nếu không có nguồn nước kiểm tra. Thứ ba, người làm ruộng tiếp xúc với nước bẩn trong thời gian dài có thể gặp vấn đề về da.
Với lúa, ảnh hưởng thường ít rõ hơn vì lúa chịu được nhiều loại nước, nhưng người dân vẫn nên theo dõi các thông báo của cơ quan chức năng. Về dài hạn, việc làm sạch sông Nhuệ là điều kiện để nông nghiệp vùng ven đô đi lên chất lượng cao, chứ không chỉ là chuyện môi trường.
Nước sinh hoạt và nước ngầm: chuyện bên cạnh đồng ruộng
Ngoài nước cho đồng ruộng, người dân vùng Thanh Oai còn quan tâm đến nước dùng hằng ngày. Trong nhiều năm, phần lớn hộ ở nông thôn dùng giếng khoan, giếng đào, bể chứa nước mưa. Nước ngầm ở một số nơi thuộc vùng đồng bằng sông Hồng được phát hiện có hàm lượng asen, sắt hoặc amoni cao, nên nhiều hộ phải lắp bộ lọc trước khi dùng.
Thành phố Hà Nội có chủ trương đưa nước sạch tập trung về các xã ngoại thành, và mạng cấp nước đã được kéo dài dần xuống các vùng ven đô. Tiến độ ở từng thôn khác nhau; nơi gần Hà Đông thường có nước máy sớm hơn nơi xa ở phía nam. Với người làm nông, nước máy giúp tách biệt nước ăn uống khỏi nước kênh mương, giảm rủi ro sức khoẻ.
Với gia trại chăn nuôi, vùng rau hay ao cá, giếng khoan vẫn là nguồn nước chính khi không muốn dùng nước kênh. Trước khi dùng cho sản xuất thực phẩm, nên kiểm tra chất lượng nước giếng ở cơ sở có chức năng xét nghiệm.
Ai lo phần nào trong chuyện nước
Bảng tóm tắt trách nhiệm theo tầng, theo nguyên lý chung; cách phân công cụ thể có thể khác theo thời kỳ và văn bản hiện hành.
| Tầng | Ai thường phụ trách | Người dân nên làm gì |
|---|---|---|
| Sông trục, công trình đầu mối, trạm bơm lớn | Đơn vị quản lý khai thác công trình thuỷ lợi của thành phố | Theo dõi thông báo lịch lấy nước, tiêu nước |
| Kênh chính, kênh nhánh | Đơn vị thuỷ lợi phối hợp chính quyền xã | Phản ánh khi kênh tắc, sạt lở qua thôn, xã |
| Kênh mương nội đồng, cống nhỏ | Hợp tác xã, tổ dùng nước, thôn | Tham gia nạo vét, giữ mương sạch, không đổ rác |
| Thửa ruộng | Người sử dụng đất | Lấy nước, tháo nước theo lịch chung, giữ bờ thửa |
| Chất lượng nước, xả thải | Cơ quan môi trường, chính quyền các cấp | Báo khi thấy xả thải bất thường, cá chết hàng loạt |
Phí dịch vụ thuỷ lợi phần lớn được hỗ trợ theo chính sách của Nhà nước cho diện tích đất nông nghiệp; phần nội đồng do hợp tác xã thu và chi theo thoả thuận ở địa phương. Mức cụ thể hãy hỏi hợp tác xã nơi mình có ruộng.
Người dân có thể làm gì cho nguồn nước chung
Hệ thống thuỷ lợi là tài sản chung; một số việc nhỏ của từng hộ tạo ra khác biệt lớn cho cả cánh đồng:
- Không vứt rác, vỏ bao bì thuốc bảo vệ thực vật, xác vật nuôi xuống kênh mương.
- Không lấn chiếm bờ kênh để trồng cây, xây công trình hay đổ đất.
- Gia trại, xưởng sản xuất cần xử lý nước thải trước khi thải ra mương.
- Tham gia các đợt nạo vét kênh mương nội đồng do thôn, hợp tác xã tổ chức.
- Báo cho thôn, xã khi thấy kênh bị tắc, cống hỏng hay nước có màu, mùi bất thường.
Những việc này nghe nhỏ, nhưng ở một vùng mà kênh mương nối liền hàng chục cánh đồng, một đoạn mương tắc vì rác có thể làm cả xứ đồng phía dưới ngập lâu hơn trong trận mưa lớn, và một lần xả nước thải bẩn có thể làm chết cá ở ao của nhiều nhà.
Câu hỏi thường gặp
Sông Nhuệ lấy nước từ đâu?
Sông Nhuệ nhận nước từ sông Hồng qua cống Liên Mạc ở phía bắc Hà Nội, chảy qua phía tây nội thành và Hà Đông, xuống vùng Thanh Oai rồi tiếp tục về phía nam trước khi đổ vào sông Đáy. Ngoài nước sông Hồng, sông còn nhận nước tiêu từ đô thị và đồng ruộng hai bên.
Vì sao ruộng phía nam Thanh Oai úng nhiều hơn phía bắc?
Vì địa hình thấp dần về phía nam, nước từ các vùng phía trên dồn xuống và chậm thoát. Khi mực nước sông cao, nước trong đồng phải bơm ra. Năng lực trạm bơm và tình trạng kênh tiêu quyết định ruộng ngập bao lâu trong những trận mưa lớn.
Nước sông Nhuệ có dùng tưới lúa được không?
Hệ thống thuỷ lợi vùng này vẫn dùng nước sông Nhuệ cho tưới lúa. Lúa chịu được nhiều loại nước hơn rau và cá, nhưng người trồng nên theo dõi thông báo của cơ quan chức năng khi có ô nhiễm bất thường. Với rau và nuôi cá, nên có nguồn nước kiểm tra hoặc ao lắng.
Có phải nộp phí thuỷ lợi không?
Phần lớn phí dịch vụ thuỷ lợi cho đất nông nghiệp được Nhà nước hỗ trợ theo chính sách. Phần dịch vụ nội đồng như dẫn nước tới thửa, nạo vét mương nhỏ có thể do hợp tác xã thu theo thoả thuận địa phương. Hỏi hợp tác xã nơi mình có ruộng để biết cụ thể.
Thấy cá chết hàng loạt trên kênh thì báo ở đâu?
Báo ngay cho trưởng thôn và UBND xã, mô tả vị trí, thời gian và hiện tượng. Chính quyền xã sẽ phối hợp cơ quan môi trường, thú y kiểm tra nguyên nhân. Không lấy cá chết về ăn hay bán và tạm ngừng lấy nước từ đoạn kênh đó vào ao, ruộng rau.
Đô thị hoá có làm tăng úng ngập ở Thanh Oai không?
Có xu hướng như vậy. Khu đô thị mới làm tăng diện tích bê tông không thấm nước, ao hồ bị lấp, nên nước mưa đổ nhanh và nhiều hơn vào hệ thống tiêu vốn thiết kế cho đồng ruộng. Các dự án nâng cấp trạm bơm, nạo vét kênh nhằm bù lại phần này.